Lý Ông Trọng – Việt sử giai thoại

Lý Ông Trọng, nhân vật lịch sử huyền thoại tại vùng đất Kinh Bắc nay là Thành phố Hà Nội. Nơi đây còn lưu lại ngôi đền khá lớn và đẹp, người dân giọi là Đền Chèm (đền Trèm) và đã được nhiều Vua ban sắc phong. Vậy ông là ai?

Lý Ông Trọng (李翁仲), tên khác là Lý Thân, không rõ năm sinh năm mất, là một nhà quân sự người Việt thời cổ đại được ghi nhận trong một số sách của Việt Nam và Trung Quốc. Theo truyền thuyết hay một số ghi chép ở Việt Nam, ông sống vào cuối đời Hùng Duệ Vương (Hùng Vương thứ 18), đầu thời An Dương Vương, gốc làng Chèm. Còn theo truyền thuyết Trung Quốc, ông tên là Nguyễn Ông Trọng (阮翁仲), người vùng Nam Hải, thời Tần Thủy Hoàng.

THEO ĐẠI VIỆT SỬ KÝ TOÀN THƯ GHI LẠI:

Năm 221 TCN (năm thứ 26 triều Tần Thủy Hoàng), nước Tần thôn tính cả sáu nước vùng Trung Nguyên và xưng Hoàng đế. Bấy giờ có người ở Từ Liêm, Giao Chỉ là Lý Ông Trọng người cao 2 trượng 3 thước, lúc ít tuổi đến hương ấp làm lực dịch, bị trưởng quan đánh, bèn bỏ sang nước Tần, làm quan đến chức Tư lệ Hiệu úy. Thủy Hoàng lấy được thiên hạ, bèn sai ông đem quân đóng giữ đất Lâm Thao (một huyện thuộc tỉnh Cam Túc ngày nay), uy danh chấn động nước Hung Nô. Khi tuổi già về làng rồi chết.

Thủy Hoàng cho ông là người kỳ lạ, đúc đồng làm tượng để ở cửa Tư Mã ở Hàm Dương, bụng tượng chứa được mấy chục người, ngầm lay thì chuyển động được, Hung Nô tưởng đó là Hiệu úy còn sống, không dám đến xâm phạm.

TRUYỀN THUYẾT VIỆT NAM (TRUYỆN KỂ) VỀ LÝ ÔNG TRỌNG

Vào thời Hùng Vương thứ 18, Ông Trọng giữ một chức nhỏ ở huyện ấp, đời sau truyền rằng ông cao hai trượng ba thước.

Với bản tính cương trực, trung hậu, thương dân nên có lần thấy một tên lính huyện ác ôn đánh đập dân phu dã man, ông đã nổi giận đánh chết tên lính đó và bị triều đình khép tội chết. Nhưng vua thấy ông là người có tài đức, khỏe mạnh nên không nỡ giết. Sau đó ông bỏ chức, đi cầu học phương xa. Đến thời An Dương Vương, ông là một tướng giỏi giúp vua và được cử đi sứ nước Tần.

Bấy giờ nhà Tần hay có nạn giặc Hung Nô đánh phá phía Bắc. Tuy Tần Thủy Hoàng đã cho đắp Vạn Lý Trường Thành nhưng vẫn không yên. Nhân có tướng tài của nước Âu Lạc là Lý Ông Trọng sang sứ nên vua Tần ngỏ ý mời ông giúp Tần trừ giặc Hung Nô, phong ông làm Vạn Tín hầu. Ông Trọng cầm quân ra giữ đất Lâm Thao (vùng Cam Túc, Trung Quốc hiện nay), hễ quân Hung Nô kéo đến bao nhiêu là bị đập tan bấy nhiêu. Giặc Hung Nô kinh sợ và từ đó không dám xâm phạm biên ải nhà Tần nữa. Vua Tần hết sức khâm phục, phong tước cao, thưởng hậu và gả cả công chúa cho Lý Ông Trọng, muốn lưu ông ở lại Tần lâu dài. Sau đó một thời gian, Lý Ông Trọng nhớ quê hương xin vua Tần cho về nước nghỉ ngơi.

Khi biết tin Lý Ông Trọng đã về nước, quân Hung Nô lại kéo sang đánh Tần. Vua Tần lại sai sứ sang Âu Lạc mời Ông Trọng. Ông Trọng không muốn đi nên vua Thục nói rằng ông đã mất. Vua Tần bất đắc dĩ phải đúc một pho tượng đồng khổng lồ hình Lý Ông Trọng (bên trong rỗng, chứa được mấy chục người, có máy giật để cử động chân tay như thật) đặt ở cửa Kim Mã, kinh thành Hàm Dương. Giặc Hung Nô ngỡ là ông lại sang Tần nên không dám xâm phạm nước này. Từ đó người phương Bắc thường gọi những pho tượng lớn là “Ông Trọng”.

THEO VIỆT ĐIỆN U LINH

Vương họ Lý tên Ông Trọng, người huyện Từ Liêm, mình cao hai trượng ba thước, khí chất đoan dũng khác người thường. Thiếu thời làm quan ở huyện ấp, bị quan Đô đốc đánh đòn, Vương than rằng:

Tráng chi của đời người nên như chim Loan chim Phụng, nhất cử vạn lý, đâu mà để cho người thóa mạ, làm nô lệ cho người?

Vương bèn chăm học, ngày tháng dùi mài, phát minh kinh sử, vào làm quan nhà Tần, làm chức Tư lệ hiệu úy. Đến lúc Tần Thủy Hoàng thôn tính thiên hạ, sai Vương đem binh trấn thủ Lâm Thao thì thanh danh chấn động Hung Nô. Thủy Hoàng lấy làm điềm tốt. Đến sau, Vương già cả về làng. Thủy Hoàng đúc tượng đồng, đặt ở ngoài cửa Tư mã Hàm cung; trong ruột tượng chứa được vài mươi người, mỗi khi sứ bốn phương đến, thầm khiến người vào trong ruột lay động pho tượng; Hung Nô thấy thế kinh sợ cho là Hiệu úy còn sống, bảo nhau không dám xâm phạm biên giới.

Đời Đức Tông nhà Đường, niên hiệu Trinh Nguyên năm đầu, Triệu Xương qua làm Đô hộ nước An Nam ta thường qua chơi làng Vương, đêm mộng thấy cùng Vương nói chuyện trị dân, và giảng luận sách Xuân Thu tả truyện, nhân đó Triệu Xương mới hỏi thăm nhà cũ của Vương hồi xưa, thì chỉ thấy mù khói ngang trời, sông nước mênh mông, rêu phong đường đá, xanh rời cụm hoang, một mảnh nhàn vân phất phơ trên đám cỏ thôn hoa rụng. Ông mới lập lại đền thờ, xưởng cao lầu lớn, rồi chuẩn bị lễ vật đem đến tế vương. Đến lúc Cao Biền đánh phá nước Nam Chiếu, Vương thường hiển linh trợ thuận. Cao Biền lấy làm kinh dị, sai thợ trùng tu từ vũ tráng lệ hơn xưa, và chạm khắc tượng gỗ son thếp giống như thực mà đem lễ vật đến tế, từ đó, hương hỏa không khi nào hết. Niên hiệu Trùng Hưng năm đầu [1285, Trần Nhân Tông], sắc phong Anh Liệt Vương, đến bốn năm sau gia phong hai chữ Dũng Mãnh, năm Hưng Long thứ hai mươi [1312, Trần Anh Tông] gia phong Phụ Tín Đại Vương.

LỜI BÀN CỦA LÝ QUANG KHANH:

“Tuy là câu chuyện truyền thuyết, thực hư chưa rõ, tuy là truyền thuyết nhưng không phải là không có lý. Đất Việt thường xuất hiện các kỳ nhân, người Việt đa phần các bậc hiền triết, hiền giả theo Tu Tiên (phương pháp tu thiền luyện khí của người Việt), Khi họ tu đạt chánh quả thì cũng giống như các vị Lạt Ma ở Tây Tạng, sau khi mất họ sẽ không đầu thai và chọn các thân sau để hỗ trợ cho thân xác mới tùy theo từng giai đoạn. Như Cụ Lý Nhĩ còn giọi là Lão Tử, sau khi cụ viết xong cuốn sách Đạo Đức Kinh thì cụ ngồi trên con trâu trắng cùng đàn chi hạc xuôi về phương nam ẩn tích). Đến cuối Triều Lý thì Hoàng tử Lý Long Tương chạy loạn sang sang Đài Loan đi tiếp gặp bão trôi dạt vào đại lục Trung Quốc thời Nhà Tống, rồi tiếp tục theo thuyền buồm sang đất Cao Ly (nay là Hàn Quốc và bắc Triều Tiên). Lý Long Tường cùng các quân nhân và nhân dân Cao Ly đánh đuổi quân Nguyên Mông và được Vua Cao Ly trọng dụng đặt tước hiệu là Hoa Sơn Tướng Quân, … Các các câu chuyện thật như vậy thì Lý Ông Trọng giúp vua Tần Thủy Hoàng đánh đuổi Hung Nô cũng là chuyện thường tình”. Lý Quang Khanh.

ĐỀN THỜ

Truyền thuyết Việt Nam kể rằng: vua Tần sai lập đền thờ ông, nay là di tích Đình Chèm, được nhân dân trong vùng xưng tôn là Đức Thánh Chèm.

Thực ra, đền thờ Lý Ông Trọng gọi là Đình Chèm chỉ được xây dựng từ thời Bắc thuộc (từ năm 603 đến năm 938) ở Thị Điềm, Thụy Phương (phường Thụy Phương, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội ngày nay). Trong Đình có các bia đá ghi chép lại lịch sử và nhân vật, đồng thời thờ 2 pho tượng đồng lớn: một là của Thượng đẳng Thiên vương Lý Ông Trọng, pho tượng còn lại là của bà vợ, hiệu Hoàng phi Bạch Tĩnh Cung (con gái của Tần Thủy Hoàng). Di tích Đình còn nguyên vẹn, kiến trúc rất đẹp.

Để tưởng nhớ Lý Ông Trọng, hằng năm ba làng: Thụy Phương, Hoàng Mạc và Liên Mạc tổ chức lễ hội đền Chèm từ 14 đến 16 tháng 5 âm lịch./.

Nguyễn Quang Khanh tổng hợp

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *