Họ Lý xứ Nghệ gắn liền với hành trình di cư của Hoàng tộc triều Lý từ thế kỷ XI, tiêu biểu nhất là dòng dõi Uy Minh Vương Lý Nhật Quang (Hoàng tử thứ 8 của vua Lý Thái Tổ), người có công lớn khai khẩn vùng Hoan Châu (Nghệ An – Hà Tĩnh).
Dưới đây là cội nguồn, dấu ấn và các địa điểm về nguồn quan trọng:
- Thủy Tổ Xứ Nghệ: Uy Minh Vương Lý Nhật Quang.
Người đặt nền móng: Năm 1041, Lý Nhật Quang được triều đình cử vào làm Tri châu Nghệ An. Ông đã xây dựng vùng đất biên viễn này trở thành một pháo đài vững chắc về kinh tế, quân sự và văn hóa.
Hóa Thánh: Sau khi ông mất, nhân dân vô cùng kính trọng, suy tôn ông là Đức Thánh và lập đền thờ.
- Các Di Tích và Đền Thờ Trọng ĐiểmTại Nghệ An và Hà Tĩnh có hàng chục ngôi đền thờ Đức Thánh Lý Nhật Quang.
Nổi bật là hệ thống “Tứ đại đền thiêng xứ Nghệ”:
+ Đền Quả Sơn (Đô Lương, Nghệ An): Được xếp hạng Di tích cấp Quốc gia, tọa lạc tại lỵ sở cũ của ngài. Lễ hội đền Quả Sơn (15-20 tháng Giêng âm lịch) là lễ hội lớn, thu hút đông đảo hậu duệ họ Lý trên cả nước về tri ân.
+ Đền Bạch Mã (Thanh Chương, Nghệ An): Do chính Lý Nhật Quang khởi dựng để thờ vọng vua cha Lý Thái Tổ. Ngôi đền có niên đại gần 1.000 năm tuổi này cũng là trung tâm sinh hoạt văn hóa lớn của dòng họ Lý.
- Dấu Ấn Hoàng Tộc và Các Nhánh Họ Chính sách của triều Trần:
Sau khi nhà Lý sụp đổ, để tránh sự truy sát của Trần Thủ Độ, nhiều chi nhánh hoàng tộc đã phải đổi sang các họ khác (phổ biến nhất là đổi sang họ Nguyễn) hoặc di tản lên vùng núi, vào nam.
- Hậu duệ nhà Lý tại xứ Nghệ:
+ Tại Nghệ An: Sau khi Nhà Lý chuyển giao quyền lực về Nhà Trần. Trần Thủ Độ bắt tất cả con cháu Nhà Lý (đã trốn thoát) phải đổi sang họ Nguyễn. Sau nhiều đời làm nghề đưa đò trên dòng Lam Giang làm kế sinh sống nhưng chủ cốt yếu là dò la tin tức từ Triều Đình Nhà Trần. Sau khi làn sóng bắt bớ, sát hại được lắng dịu. Cụ tổ Lý Công (tức là Lý Công Hầu) thôi làm nghề đưa đò, chọn vùng đất Tiên Cầu làm nơi định cư mà trước đó các bậc tiền bối đã khai khẩn đất đai, trải qua nhiều đời con cháu làm Trại Chủ của các vùng và đặt tên cho từng vùng đó. Cụ Tổ Lý Lữ (Hầu Thí Thân Nguyễn Tiến Lữ) sinh hạ 2 người con trai:
++ Lý Chiêu ở lại Tiên Cầu (Cầu Nậy, Thanh Giang) tạo dựng dòng họ Nguyễn Tiến, phát triển con cháu lên vùng Nhân Thành thành lập dòng họ Nguyễn Hữu, Nguyễn Trọng, Nguyễn Văn, Nguyễn Đình..
++ Lý Hoằng (Quang Hiển) sau biến cố Nhà Lê (có thể liên quan đến vụ án Lệ Chi Viên xử Nguyễn Trãi, cũng có thể do Lê Sát hãm hại cong thần của Nhà Lê) phải chạy trốn vào Điền Lao (Lương Điền) vì vùng này đồi núi, nhiều khe và rừng sâu Đá Bia tiện đàng tẩu thoát khi bị quan quân truy quyét. Sau thời gian lắng dịu cụ lại tiếp tục sự nghiệp của Tổ Tiên là khai khẩn ruộng đất hoang làm trại cày, chiêu dân, dạy văn hóa… tạo dựng dòng họ Nguyễn Quang lớn mạnh với hơn một ngàn hai trăm đinh.
Từ Cụ Lý Công con cháu phát triển ra nhiều vùng của Nghệ An và Hà Tĩnh
+ Tại Hà Tĩnh: Bên cạnh con cháu của cụ Lý Công Hầu thì một nhánh Lý Thừa từ Thăng Long chạy vào Hà Tĩnh sau biến cố Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh. Cụ vào Cẩm Xuyên và tạo dựng dòng họ Nguyễn Thừa, từ dòng họ Nguyễn Thừa con cháu phát triển ra nhiều vùng trong tỉnh Hà Tĩnh.

Để tri ân tiên tổ của Nhà Lý và các đời Tổ tại xứ Nghệ. Lý Quang Khanh (Nguyễn Quang Khanh) biên soạn lời mới theo các làn điệu dân ca của vùng Kinh Bắc và xứ Nghệ.
Lyrics _
CỘI NGUỒN HỌ LÝ XỨ NGHỆ
(Liên khúc Dân ca Quan họ Bắc Ninh và Dân ca xứ Nghệ)
Lời mới: Nghệ nhân Lý Quang Khanh
Điệu Còn duyên:
Người ơi / là người / về với / với quê xưa
Bắc í Ninh / là quê họ Lý / để muôn đời / cùng với Thăng Long
Tổ tiên ta / chọn nhân nghĩa / ớ ơ đắp nền /cho mai sau
Cho con cháu tiếp ơ đường / tiếp bước đường / tương lai
Tính a tinh / tính tình tình tinh / a hợi à / hừ hội hừ / là hứ hội hừ
Người ơi / nhớ đến / công đức / với tổ tiên
Dẫu i đi / là đi muôn nẻo / vẫn hướng về / là về quê xưa
có thương nhau / sang thăm hỏi chơi nhà
Cho tình / là người họ Lý … / để chúng ta / chung ta tìm về…
Tính a tinh / tính tình tình tinh / a hợi à / hừ hội hừ / là hứ hội hừ…
Điệu hò nước ngược: (nam hò)
Hò ơ… ơ… ơ.. hò…
Chứ Giao Châu đất Việt ngàn đời
Quê hương họ Lý muôn đời rạng ơ…ơ danh
Lý Thị tỏa ra khắp nơi. Luy Lâu Cổ Pháp dựng xây cơ đồ
Điệu ví sông Lam: (nữ ví)
Hởi là người ơi .. ơ..ơ….
Đất Hoan Châu có dấu chân họ ơ… Lý
Uy Minh Hầu làm rạng rỡ non ơ… sông
Hồng Lam sơn thủy hữu ơ tình
Một miền biên viễn phía nam Việt ơ Thường.
Hò khoan Nghệ Tĩnh:
Hò… ơ… ờ ơ… ờ ơ khoan dzô khoan…
Tám đời vua Lý ơ Thị
Nước Đại Việt sáng ơ ngời
Là khoan dzô khoan…
Xứ Nghệ có Nhật ơ Quang
Mở mang vùng đất ơ mới
Hò… ơ… ờ ơ… ờ ơ khoan dzô khoan…
Cháu con nay nên nhớ
Nhớ đất Tổ quê ơ nhà
Là khoan dzô khoan…
Dù con cháu đi xa
Bến quê còn vẫn đợi
Bến quê này vẫn đợi
Hò… ơ… ờ ơ… ờ ơ khoan dzô khoan…
Ngày hôm nay thay ơ đổi
Con cháu quyết tìm ơ về
Là khoan dzô khoan…
Dù có phải đi xa
Phải quay về họ cũ
Mà phải quay về họ ơ Lý
Hò… ơ… ờ ơ… ờ ơ
Khoan dzô khoan… là khoan dzô khoan
Khoan dzô khoan… là khoan dzô khoan
Nhạc beat:


